Trang Chủ Tin tức Không lây nhiễm HIV qua đường tình dục nếu tải lượng HIV...

Không lây nhiễm HIV qua đường tình dục nếu tải lượng HIV dưới ngưỡng phát hiện

4
0

Đó là khẳng định của Tiến sĩ John Blandford, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh dịch Hoa Kỳ (CDC) tại Việt Nam dựa trên cập nhật các bằng chứng khoa học mới nhất về lây nhiễm HIV qua đường tình dục tại lớp tập huấn cho phóng viên báo chí khu vực phía bắc về HIV/AIDS do Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) tổ chức tại Hà Nội ngày vào ngày 15 tháng 11 năm 2018.
Thông tin trên dựa vào kết quả của 4 nghiên cứu khoa học được các nhà khoa học nghiên cứu ở hàng ngàn cặp bạn tình đồng giới và dị giới tại nhiều nước, kết quả mới nhất đã khẳng định: Khi người nhiễm HIV đang điều trị bằng ARV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện (tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện được định nghĩa là dưới 200 bản sao/ml máu) thì không có khả năng lây nhiễm qua đường tình dục, kể cả họ không dùng bao cao su hay dự phòng bằng thuốc ARV trước phơi nhiễm (PrEP).
“Điều này có nghĩa là người có HIV mà uống thuốc ARV theo chỉ định của bác sĩ đến mức tải lượng virus không phát hiện được, sẽ không có nguy cơ lây truyền HIV qua đường tình dục cho bạn tình HIV âm tính của họ”- TS. John Blandford nhấn mạnh.

Không phát hiện = Không lây truyền
Ông John Blandford cũng cho biết: Khi kết quả trên được thông báo trong một hội nghị, tất cả những người tham dự đều ngạc nhiên và phấn khởi. Chương trình Phối hợp của Liên Hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) cũng xác nhận khái niệm U=U (Undetectable = Untransmittable tạm dịch là không phát hiện = không lây truyền). Có một sự đồng thuận khoa học mạnh mẽ rằng những người sống chung với HIV đang điều trị ARV hiệu quả và mức độ HIV bị ức chế ở mức không thể phát hiện, sẽ không lây nhiễm HIV qua đường tình dục.

TS. John Blandford – Giám đốc CDC Việt Nam
Ông John Blandford cũng cho rằng, thông tin khoa học trên là rất quan trọng vì sẽ giúp người có HIV không bị kỳ thị và tự kỳ thị, vì khi không có khả năng lây truyền, thì họ bình thường như mọi người khác. Ông John cũng thông tin: Đặc biệt, có tới 93% người nhiễm HIV ở Việt Nam được phát hiện, điều trị ARV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện, đó là một kết quả rất tốt. Chỉ có một vài quốc gia đạt mức mức này và Việt Nam là một trong những quốc gia đó.
Tại Hội nghị, TS. Hoàng Đình Cảnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS cũng cho biết công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam còn nhiều khó khăn khi nguồn tài trợ thuốc ARV của các tổ chức quốc tế kết thúc, việc điều trị HIV/AIDS được thực hiện thông qua quỹ bảo hiểm y tế (BHYT). Với việc chuyển đổi này nguy cơ sẽ có thể có những bệnh nhân bỏ điều trị, không tiếp cận được thuốc ARV, dẫn tới việc kháng thuốc đang là nỗi lo hiện hữu. Bên cạnh đó, tình trạng phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS, người tiêm chích ma túy vẫn cao, dẫn tới công tác phòng, chống HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên ông Cảnh cũng khẳng định: “Nhưng về lâu dài các bệnh nhân phải hiểu BHYT là con đường ổn định lâu dài cho việc điều trị. Chính phủ hiện cũng đang nỗ lực tìm nguồn thuốc điều trị cho người bệnh”.
Để nâng cao hiệu quả điều trị ARV, bên cạnh nâng cao độ bao phủ và chất lượng điều trị, theo TS. John Blandford, các nhân viên y tế cũng cần phải thông báo và tư vấn cho bệnh nhân việc xét nghiệm tải lượng virus HIV một cách định kỳ, thường xuyên để điều trị bệnh tốt hơn và bệnh nhân cũng nên chủ động tìm hiểu và hỏi thầy thuốc để biết về tình trạng tải lượng vi rút của mình.
“Trong năm qua, Việt Nam chứng kiến sự chuyển biến tích cực của nghiên cứu không phát hiện HIV = không lây nhiễm HIV. Sự chuyển biến này được nhìn nhận và đánh giá trên toàn thế giới và được đưa vào hướng dẫn điều trị, hoạt động và tăng cường sự cam kết của người điều trị để giảm kỳ thị trong cộng đồng” – ông John chia sẻ.
Cũng theo Ts. John Blandford, CDC sẽ đồng hành với Chính phủ của Việt Nam trong việc đưa nghiên cứu K=K vào thực hành trong xã hội và nhấn mạnh: Việt Nam là một ví dụ cho thấy sự quan tâm của Chính phủ đối với những nghiên cứu mới.
Nghiên cứu K=K được thực hiện ở 5 châu lục và 24 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu có phạm vi trải rộng và ở tất cả lứa tuổi và các cặp bạn tình.