Trang Chủ Tin tức Báo chí viết về chúng ta Phòng, chống HIV/AIDS – Một năm nhìn lại

Phòng, chống HIV/AIDS – Một năm nhìn lại

Nhân Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2022 và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS (01/12), chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Phan Thị Thu Hương - Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế về công tác phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam khi thời điểm năm 2022 đang dần khép lại.

21
0

Xin Cục trưởng cho biết tình hình dịch HIV/AIDS và xu hướng dịch HIV trên thế giới, khu vực và ở Việt Nam trong năm 2022?
Theo số liệu UNAIDS tính đến cuối năm 2021, Thế giới hiện có khoảng 38,4 triệu người nhiễm HIV. Trong năm 2021, toàn thế giới có 1,5 triệu người nhiễm mới HIV và 650 ngàn người tử vong liên quan đến AIDS. Dịch HIV phân bố nhiều nhất là ở châu Phi (khoảng 25,6 triệu người hiện nhiễm HIV). Xu hướng nhiễm mới HIV trên toàn cầu tiếp tục giảm.
Tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tính đến năm 2021 có 5,7 triệu người nhiễm HIV. Trong năm 2021, có 260.000 người nhiễm mới trong đó có khoảng 14.000 là trẻ em dưới 15 tuổi, 128 ngàn người tử vong do AIDS. Đối tượng mới được phát hiện nhiễm HIV chủ yếu là nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) (chiếm 53%).
Tại Việt Nam, kể từ ca nhiễm đầu tiên được phát hiện năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, tính đến tháng 10/2022, theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì cả nước có 220.580 người nhiễm HIV hiện đang còn sống và 112.368 người nhiễm HIV đã tử vong. Dịch tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 1/4 số người nhiễm mới phát hiện trên toàn quốc) và chủ yếu ở đối tượng nam giới (trên 80%). Từ năm 1990 đến 2015, tỷ lệ người nhiễm HIV là nam giới có xu hướng giảm nhẹ từ, tuy nhiên từ năm 2016 tỷ lệ người nhiễm HIV là nam giới bắt đầu có xu hướng gia tăng trở lại. Trong giai đoạn đầu của dịch, đối tượng bị lây nhiễm HIV chủ yếu là qua đường máu tuy nhiên trong những năm gần đây lây nhiễm qua đường quan hệ tình dục không an toàn trở thành đường lây chính trong những ca nhiễm HIV mới phát hiện.
Trong 10 tháng đầu năm 2022, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 9.025 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân tử vong 1.378 trường hợp. Số người mới phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16 – 29 (48,6%) và 30 – 39 (28,4%). Đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (81,6%).
Theo số liệu ước tính và dự báo dịch HIV/AIDS của Việt Nam năm 2022, số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là khoảng 242.000 người. Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) đang được cảnh báo là một trong những nhóm nguy cơ chính của dịch HIV tại Việt Nam hiện nay; Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tăng rõ rệt; tỷ lệ nhiễm mới HIV cao, tăng lên từng năm; MSM và nhóm chuyển giới (TG) được dự báo có thể trở thành nhóm chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số người nhiễm HIV mới được ước tính hàng năm trong thời gian tới. Kết quả ước tính và dự báo những ca nhiễm mới, dựa trên mô hình dịch AIDS/mô hình dịch tại Châu Á (Asian/AIDS Epidemic Model) cho thấy MSM là nhóm nguy cơ cao duy nhất tại Việt Nam có tỷ lệ nhiễm mới HIV tăng liên tiếp trong 20 năm qua. Về xu hướng số trường hợp nhiễm mới HIV vẫn có xu hướng giảm, nhưng tốc độ giảm chậm hơn nhiều, hiện số ca nhiễm mới HIV ước tính khoảng 5700 người.

Vậy năm 2022 công tác phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đã đạt được những kết quả gì và các mục tiêu 95-95-95 trong phòng, chống HIV/AIDS đến nay Việt Nam đang ở đâu?
Năm 2022 với sự nỗ lực của cả hệ thống, có thể nói công tác phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam tiếp tục đạt được rất nhiều kết quả ấn tượng. Có thể kể ra một số kết quả chính như sau:
– Công tác truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS và truyền thông tạo cầu cho giới trẻ được đa dạng hóa và đạt hiệu quả cao thông qua nhiều sự kiện truyền thông trong khu công nghiệp, trường học và truyền thông đa phương tiện.
– Chúng ta tếp tục triển khai các hoạt động can thiệp giảm hại: phân phát bơm kim tiêm, bao cao su, chất bôi trơn cho các nhóm nguy cơ cao, đặc biệt tập trung nhiều cho nhóm MSM (trong 10 tháng đầu năm đã tiếp cận được hơn 100.000 MSM).
– Việc xét nghiệm sàng lọc HIV đã bao phủ 100% tuyến huyện tại hơn 1300 cơ sở và xét nghiệm khẳng định HIV đã bao phủ 100% tỉnh/thành phố với 204 phòng xét nghiệm khẳng định. Xét nghiệm khẳng định HIV được mở rộng xuống tuyến huyện. Hệ thống phòng xét nghiệm khẳng định HIV cũng đang được triển khai thí điểm sử dụng 3 test nhanh tại các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa. Xét nghiệm nhiễm mới đã được triển khai tại 28 tỉnh/thành phố trên cả nước.
– Chúng ta cũng đã tiếp tục duy trì, mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Tính đến 30/9/2020, chương trình Methadone đã được triển khai tại 341 cơ sở điều trị của 63 tỉnh/thành phố, điều trị cho 51.260 bệnh nhân trong đó có 2857 bệnh nhân được cấp phát thuốc mang về nhà.
– Về áp dụng dự phòng thế hệ mới: Điều trị dự phòng tiền phơi nhiễm (PrEP) triển khai đa dạng thông qua các mô hình TelePrEP, PrEP trực tuyến, lưu động… Tốc độ tăng trưởng khách hàng nhanh hơn so với các nước trong khu vực. Tính đến 31/8/2022, đã có 210 cơ sở PrEP triển khai cung cấp dịch vụ PrEP (nhà nước và tư nhân) tại 29 tỉnh, thành phố. Số khách hàng được tiếp cận với dịch vụ PrEP ít nhất 1 lần trong kỳ báo cáo là 40.020 khách hàng (đạt 88,9% so với chỉ tiêu 45.000 khách hàng vào năm 2022); số khách hàng duy trì trị điều trị PrEP trên 3 tháng liên tiếp đạt 69,6%; 80,4% số khách hàng PrEP là MSM.
– Về điều trị HIV/AIDS: Hiện có 499 cơ sở điều trị bằng thuốc ARV, trong đó 362 cơ sở đang điều trị thuốc ARV bảo hiểm y tế. Có 167.022 bệnh nhân, trong đó 3.453 bệnh nhân trẻ em, 163.568 người lớn đang được điều trị bằng thuốc ARV. Mở rộng điều trị ARV qua Bảo hiểm y tế, phấn đấu tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV có tải lượng vi rút HIV dưới ngưỡng ức chế đạt 95% trở lên. Tính đến 30/9/2020 cả nước có 169.467 bệnh nhân điều trị ARV (trong đó 89.146 bệnh nhân điều trị ARV bảo hiểm y tế) tại 478 cơ sở điều trị HIV bằng thuốc kháng ARV.
– Việt Nam cũng tăng cường cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS trong trại giam, trại tạm giam: triển khai dịch vụ tại 31 trại giam và 35 trại tạm giam, Xét nghiệm được cho khoảng 22.250 lượt tại trại giam và 7.201 lượt tại trại tạm giam (trong đó có 1,5% dương tính). Điều trị cho khoảng 3.525 bệnh nhân ARV và 1.200 bênh nhân ARV được điều trị Viêm gan C.
– Triển khai Điều trị Viêm gan C cho bệnh nhân HIV và bệnh nhân điều trị Methadone. Đến 30/9/2022 số bệnh nhân nhiễm HIV và bệnh nhân điều trị methadone mắc viêm gan C được điều trị tại 38 tỉnh/thành phố là 16.052 bệnh nhân (trong đó có 4.324 bệnh nhân methadone). Tỷ lệ khỏi bệnh đạt 97,4%, đây cũng là con số ấn tượng.
– Tự chủ tài chính trong nước cho phòng, chống HIV/AIDS: Chuyển đổi điều trị ARV từng nguồn viện trợ sang nguồn BHYT. Huy động y tế tư nhân cung cấp các dịch vụ phòng, chống AIDS. Hiện có 20 phòng khám tư nhân; 50% người sử dụng PrEP nhận dịch vụ ở kênh tư nhân.
– Việt Nam cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý và giám sát dịch HIV. Đến nay, hệ thống thông tin quản lý người nhiễm HIV (HIV-INFO) phiên bản 4.0 và phần mềm quản lý điều trị PREP, ARV, cung ứng thuốc (HMED) đã được triển khai cho 63 tỉnh.
Việt Nam đã đặt mục tiêu 95-95-95 để kết thúc dịch bệnh AIDS vào năm 2030, hiện nay ước tính có khoảng 242.000 người nhiễm HIV tại Việt Nam, trong đó:
– 86% người biết tình trạng nhiễm HIV.
– 80% người biết tình trạng nhiễm HIV được điều trị ARV.
– 96% người được điều trị ARV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế.
Như vậy trong 3 mục tiêu 95-95-95 thì hai mục tiêu đầu còn cần nỗ lực rất nhiều chúng ta mới đạt được.

Thưa PGS.TS Phan Thị, công tác phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay có thách thức gì và định hướng trong thời gian tới như thế nào?
Dù chúng ta đạt được nhiều kết quả ấn tượng trogn năm 2022, tuy nhiên công tác phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, HIV/AIDS hiện vẫn đang là vấn đề sức khỏe công cộng quan trọng: là một trọng những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam. Dịch HIV vẫn đang diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng nhiễm mới nhất là nhóm thanh thiếu niên trẻ. Nhóm Nam quan hệ tình dục đồng giới đang được cảnh báo là một trong những nhóm nguy cơ chính của dịch HIV tại Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, thách thức về tài chính: Một số địa phương chưa phê duyệt đề án đảm bảo tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS. Trung ương chưa có hướng dẫn nội dung chi và định mức chi mà do từng địa phương tự xây dựng và phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền nên khó khăn. Quy trình, thủ tục mua sắm, đấu thầu thuốc ARV, sinh phẩm xét nghiệm cũng nhiều vướng mắc, quá trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu cũng rất khó khăn.
– Thứ ba, nghiện các chất ma túy tổng hợp và ma túy dạng kích thích: đang gia tăng, chưa có thuốc điều trị nghiện cũng như hướng dẫn chi trả cho xác định tình trạng nghiện.
Và tất nhiên còn một số các thách thức khác như hệ thống y tế hiện nay sau nhiều năm ứng phó với dịch Covid-19 nên công tác phòng, chống HIV/AIDS cũng bị ảnh hưởng từ nguồn nhân lực đến hệ thống mua sắm, cung cấp các dịch vụ dự phòng nói chúng.
Về định hướng, tôi cho rằng trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung vào một số các công việc trọng tâm sau:
Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý: Hiện nay công tác phòng, chống HIV/AIDS đã có bộ 3 văn bản hết sức quan trọng đó là: Chỉ thị 07 của Ban Bí thư; Luật Phòng, chống HIV/AIDS mới được sửa đổi và Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS của Chính phủ cùng hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên năm tới chúng ta vẫn tiếp tục rà soát và xây dựng mới hoặc sửa đổi các văn bản dưới luật để triển khai Luật cũng như các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật để có cơ chế và hướng dẫn cho các địa phương triển khai một cách hiệu quả và cập nhật nhất được các kinh nghiệm, khuyến cáo của thế giới/
Thứ 2: Về chuyên môn kỹ thuật:
– Với tư vấn và xét nghiệm HIV: Tiếp tục đa dạng hóa dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV. Đẩy mạnh xét nghiệm HIV trong cơ sở y tế, mở rộng xét nghiệm HIV tại cộng đồng, xét nghiệm HIV lưu động và tự xét nghiệm HIV; Đẩy mạnh việc triển khai các mô hình tư vấn xét nghiệm HIV phù hợp với từng nhóm có hành vi nguy cơ cao, gồm người sử dụng ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới, phụ nữ bán dâm, phạm nhân; mở rộng triển khai xét nghiệm HIV cho bạn tình, bạn chích của người nhiễm HIV; xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai;
– Về dự phòng lây nhiễm HIV: Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông ở cả kênh truyền thông đại chúng; Hệ thống thông tin cơ sở và nhất là truyền thông dựa trên nền tảng công nghệ. Tiếp tục các can thiệp để giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV. Mở rộng, đổi mới các biện pháp can thiệp giảm hại, dự phòng lây nhiễm HIV.Tập trung triển khai các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm có nguy cơ nhiễm HIV cao, người sử dụng ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới nữ, phụ nữ bán dâm và bạn tình, bạn tiêm chích của người nhiễm HIV; Đa dạng hóa các mô hình cung cấp bao cao su và bơm kim tiêm miễn phí phù hợp với nhu cầu của người sử dụng, kết hợp với mở rộng cung cấp bao cao su, bơm kim tiêm qua kênh thương mại; Đổi mới và nâng cao chất lượng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Mở rộng các mô hình điều trị, cấp phát thuốc tại tuyến cơ sở. Thí điểm và nhân rộng mô hình cấp phát thuốc điều trị mang về nhà. Đẩy mạnh các mô hình can thiệp cho người sử dụng ma túy tổng hợp, người sử dụng ma túy dạng kích thích Amphetamine (ATS) và người sử dụng đa ma túy; Đồng thời mở rộng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV (PrEP) cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao qua hệ thống y tế nhà nước và tư nhân v.v…
– Về điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV: Mở rộng độ bao phủ dịch vụ điều trị HIV/AIDS. Mở rộng điều trị HIV/AIDS tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, các cơ sở chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội và các tổ chức hợp pháp khác. Huy động sự tham gia của y tế tư nhân trong điều trị HIV/AIDS; Lồng ghép dịch vụ điều trị HIV/AIDS vào hệ thống khám bệnh, chữa bệnh. Phân cấp điều trị HIV/AIDS về tuyến y tế cơ sở; mở rộng chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại tuyến xã, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS tại nhà, tại cộng đồng; Tăng cường tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai; điều trị ngay thuốc ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV; chẩn đoán sớm, quản lý và điều trị cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV; Tăng cường dự phòng, phát hiện và điều trị các bệnh đồng nhiễm với HIV/AIDS, gồm lao, viêm gan B, C và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Song song mở rộng độ bao phủ dịch vụ điều trị là nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS.
– Về giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá: Thiết lập hệ thống giám sát ca bệnh từ khi xác định nhiễm HIV cho đến tham gia điều trị, chuyển đổi cơ sở điều trị, chất lượng điều trị, tuân thủ điều trị cho đến tận khi người nhiễm HIV tử vong. Tiếp tục duy trì hoạt động giám sát trọng điểm HIV, STI và giám sát hành vi lây nhiễm HIV phù hợp. Áp dụng kỹ thuật chẩn đoán mới nhiễm trong giám sát trọng điểm để đánh giá và ước tính nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao, đặc biệt là nhóm MSM;
– Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng, chống HIV/AIDS bao gồm tích hợp, lồng ghép các phần mềm, hệ thống thông tin liên quan đến quản lý HIV/AIDS; đồng bộ dữ liệu về điều trị HIV/AIDS với hệ thống quản lý thông tin bệnh viện; Xây dựng cơ sở dữ liệu HIV/AIDS tập trung, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cảnh báo sớm, kiểm soát và đáp ứng y tế công cộng trong phòng, chống HIV/AIDS; mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý người nhiễm HIV, điều trị HIV/AIDS, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
– Đảm bảo tài chính: Phấn đấu đáp ứng đủ nhu cầu kinh phí cho phòng, chống HIV/AIDS. Định hướng ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước các cấp tập trung cho các hoạt động dự phòng, can thiệp giảm hại, giám sát dịch. Mở rộng điều trị HIV/AIDS do Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả. Tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ quốc tế cho phòng, chống HIV/AIDS; Tăng cường sự tham gia của các cá nhân, tổ chức, khu vực tư nhân tham gia đầu tư và cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS.
Xin cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thị Thu Hương!