Trang Chủ Tin tức Sự kiện Tọa đàm trực tuyến: “HIV/AIDS – góc nhìn đa chiều”

Tọa đàm trực tuyến: “HIV/AIDS – góc nhìn đa chiều”

50
0

Vào 9h sáng nay (7/12), Trang tin điện tử Tiếng Chuông – Trang tin của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và Phòng, chống ma túy, mại dâm tổ chức chương trình Tọa đàm truyền hình trực tuyến với chủ đề: “HIV/AIDS – Góc nhìn đa chiều”.

Vào 9h sáng nay (7/12), Trang tin điện tử Tiếng Chuông – Trang tin của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và Phòng, chống ma túy, mại dâm tổ chức chương trình Tọa đàm truyền hình trực tuyến với chủ đề: “HIV/AIDS – Góc nhìn đa chiều”.

aids-tọa đàm trực tuyến: HIV/AIDS -góc nhìn đa chiềuẢnh Tiengchuong.vn/Phan Hoàng

Cuộc tọa đàm diễn ra tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, số 16, Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội.

Sự kiện này được tổ chức nhân Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS (từ ngày 10/11/2012 đến 10/12/2012) và Ngày thế giới phòng chống AIDS (1/12).

Hiện HIV/AIDS vẫn là một trong những mối đe dọa đối với sức khỏe, tính mạng con người, ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn thế giới.

Tính đến hết tháng 10/2012, tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống là 206.815 người, số người nhiễm HIV đã tử vong 53.773 trường hợp. Riêng trong tháng 10/2012, cả nước phát hiện thêm 756 trường hợp nhiễm mới. Tuy dịch HIV/AIDS ở Việt Nam đã được khống chế ở mức độ thấp, số nhiễm mới giảm liên tục trong 4 năm gần đây nhưng chưa bền vững.

Do vậy kiểm soát lây nhiễm HIV trong cộng đồng tiếp tục là một trong những mục tiêu ưu tiên của Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Và làm thế nào để thực hiện được mục tiêu “ba không” do Liên Hợp Quốc đề ra là: Không còn người nhiễm mới HIV, không còn người tử vong do AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS vẫn đang là vấn đề cấp bách đối với các bộ ngành và các địa phương.

Tham dự Tọa đàm có:

– Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long

– Bà Nguyễn Thúy Anh, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội

– Ông Tony E. Lisle, Giám đốc quốc gia của UNAIDS Việt Nam.

BTV: Chúng ta đã trải qua hơn 20 năm ứng phó với đại dịch HIV/AIDS. Nhân Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và Ngày Thế giới phòng, chống HIV/AIDS năm 2012, xin Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long cho biết tình hình dịch HIV hiện nay ở Việt Nam, một số kết quả nổi bật mà chúng ta đã đạt được và hiện chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức gì?

Ông Nguyễn Thanh Long – Ảnh Tiengchuong.vn/Phan Hoàng

Ông Nguyễn Thanh Long:Truớc hết, xin cám ơn Cổng TTĐT Chính phủ và Trang tin Tiếng Chuông đã tổ chức buổi toạ đàm trong thời điểm hết sức có ý nghĩa, khi chúng ta đang triển khai Tháng hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS. Có thể nói, hơn 20 năm qua, chúng ta đã đương đầu với dịch và có thể nhận định trong một câu là công tác phòng chống có diễn biến tương đối tích cực.

Cho tới nay Việt Nam có 206.000 trường hợp nhiễm HIV còn sống, 53 ngàn trường hợp tử vong. Trong 4  năm gần đây, con số nhiễm mới hàng năm và tử vong đều giảm, đó là bước tiến quan trọng.

Nhờ sự quan tâm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chúng ta đã xây dựng được một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho công tác phòng chống HIV/AIDS. Năm 1995, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Phòng chống HIV/AIDS, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 54, Kết luận 27 về công tác này, sau đó Quốc hội đã ban hành Luật Phòng chống HIV/AIDS. Các tổ chức quốc tế đánh giá chúng ta đã xây dựng được hành lang pháp lý tương đối toàn diện, khá đầy đủ. Đặc biệt, Luật Phòng, chống HIV/AIDS  được xem là tiên tiến, phù hợp với quy định quốc tế.

Chúng ta đã triển khai các chương trình dự phòng toàn diện, hiều hoạt động truyền thông làm thay đổi hành vi. Theo nhận định của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, chưa có chương trình triển khai giáo dục truyền thông nào rộng lớn như vậy, đã huy động được cộng đồng người bị ảnh hưởng, nhóm nhiễm HIV, nhóm có nguy cơ cao tham gia công tác tuyên truyền.

Cùng với đó, chúng ta triển khai các chương trình can thiệp giảm tác hại, gồm 3 thành phần: Khuyến khích sử dụng bao cao su, sử dụng bơm kim tiêm sạch và điều trị bằng thuốc thay thế. Chương trình sử dụng bao cao su được triển khai rất rộng rãi, chương trình trao đổi bơm kim tiêm được triển khai mạnh mẽ. Hàng năm, chúng ta phân phát 24 triệu bơm kim tiêm sạch.

Cách đây 5 năm, việc điều trị bằng Methadone gặp nhiều phản ứng từ người dân. Sau khi nghiên cứu, xem xét, thí điểm, năm 2008, chúng ta bắt đầu triển khai. Sau 3 năm, kết quả đạt được rất tích cực. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế tổng kết, nhân rộng, tính đến nay, đã có 60 điểm với 11 ngàn người được điều trị, góp phần đem lại sự bình yên, giảm tỷ lệ tội phạm trong cộng đồng.

Chương trình dự phòng lây truyền từ mẹ sang con, chọn tháng 6 hàng năm làm tháng cao điểm, cũng mang lại kết quả tốt. Trước đây, khoảng 4.000- 5.000 trường hợp lây nhiễm từ mẹ sang con mỗi năm, tỷ lệ ở mức 30 – 40%, nay đã giảm còn 10% và mục tiêu phấn đấu xuống 5% trong thời gian sắp tới.

Tất cả các tỉnh đều có cơ sở xét nghiệm, tư vấn miễn phí về HIV. Chương trình sử dụng các thuốc kháng virus ARV, bắt đầu từ năm 2005 đã được triển khai diện rộng, con số phòng khám điều trị ARV tăng lên, đã điều thị cho 65 ngàn trường hợp, nhờ đó số tử vong giảm rõ rệt, từ mức 10.000 người xuống còn 1.000 – 2000 người mỗi năm. Năm 2010, con số tử vong giảm 70% so với năm 2005.

Một số chương trình có kết quả rất ấn tượng, được quốc tế đánh giá cao.  

Về thách thức hiện nay, tuy chúng ta đã nhập cuộc mạnh mẽ với sự tham gia của chính quyền và cộng đồng, nhưng ở đâu đó vẫn chưa thực sự quan tâm, nhận thức của người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Theo điều tra của Cục Phòng chống HIV/AIDS, dưới 5% người dân Lai Châu trả lời đúng 5 câu hỏi về HIV. Thách thức nữa là duy trì tính bền vững của chương trình, nhất là về nhu cầu điều trị bằng Methadone và ARV…

Thách thức thứ ba là tính bền vững của nguồn tài chính. Việt Nam nhận được hỗ trợ rất lớn của quốc tế, có lúc chiếm tới 75% tổng ngân sách dành cho phòng chống HIV/AIDS, nhưng khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, hỗ trợ quốc tế sẽ giảm dần. 

BTV: Đó là đôi nét về tình hình dịch HIV hiện nay ở Việt Nam, xin ông Tony E. Lisle cho biết, tình hình dịch và xu hướng dịch HIV/AIDS đang diễn ra trên thế giới hiện nay?

Ông Tony E. Lisle – Ảnh Tiengchuong.vn/Phan Hoàng

Ông Tony E. Lisle:Còn 1.000 ngày nữa để chúng ta hoàn thành các mục tiêu về phòng chống HIV trên toàn cầu. Hiện có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc hạn chế các ca nhiễm mới. Nhưng chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm như: số ca nhiễm mới còn cao với 5 triệu ca nhiễm mới trong năm 2011; còn rất nhiều người dân trên thế giới không hề biết khái niệm HIV; có 18 triệu người cần điều trị những chưa được điều trị…

Báo cáo cũng chỉ ra rằng, HIV vẫn gây tác động tiêu cực trên toàn cầu. Các chương trình phòng chống HIV vẫn khó tiếp cận các nhóm mại dâm, sử dụng ma túy, quan hệ đồng giới… Tôi nghĩ Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn như trên trong công tác phòng chống HIV/AIDS.

BTV: Lây nhiễm HIV/AIDS chủ yếu do tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục không an toàn, theo Thứ trưởng, cần ứng phó như thế nào để giảm số người nhiễm HIV?

Ông Nguyễn Thanh Long: Có thể thấy rằng, khi phân tích đặc điểm dịch tễ học về lây nhiễm xuất hiện một số quan ngại và có sự thay đổi. Thứ nhất, lây nhiễm HIV tập trung lứa tuổi trẻ từ 19-29, nhưng gần đây có xu hướng già hóa, người nhiễm HIV có độ tuổi lớn hơn. Thứ hai, về con đường lây nhiễm, cách đây 10 năm, chúng ta khẳng định 90% trường hợp nhiễm HIV là liên quan đến tiêm chích ma túy nhưng đã có sự thay đổi, đặc biệt ở miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ lây nhiễm qua quan hệ tình dục chiếm tới 70%. Trong khi, khu vực miền núi phía bắc vẫn chủ yếu qua đường tiêm chích ma túy.

Về phân loại theo nhóm, nếu như trước đây trong báo cáo về tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm tình dục đồng giới được các tỉnh nhắc đến rất dè dặt, nhưng hiện nay, trên các phương tiện truyền thông, được nhắc đến phổ biến hơn, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Có những địa phương tưởng như yên lặng về vấn đề tình dục đồng giới như Thanh Hóa, nhưng qua khảo sát tại một cộng đồng đồng giới, tỷ lệ nhiễm HIV qua quan hệ tình dục đồng giới đang tăng, có thể chiếm tới 14-15%.

Về biện pháp đối phó, bên cạnh các chương trình truyền thông, nâng cao nhận thức, đối với hình thái lây nhiễm qua tiêm chích ma túy, chúng ta giải quyết bằng các chương trình can thiệp bằng việc cung cấp kim tiêm, thuốc cai nghiện Methadone; nhưng đối với việc phòng chống lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục vẫn chủ yếu bằng dự phòng lây nhiễm qua phân phát bao cao su. Thực hiện điều này khó khăn hơn việc ứng phó với đường lây nhiễm qua tiêm chích ma túy.Đáng lưu tâm là xuất hiện tình trạng sử dụng ma túy cùng với quan hệ tình dục không an toàn mà chúng tôi đã cảnh báo tại Hội nghị tổng kết 20 năm công tác phòng chống HIV/AIDS.

BTV: Thưa Phó Chủ nhiệm Nguyễn Thúy Anh, vai trò lãnh đạo của Quốc hội và HĐND các cấp là rất quan trọng trong công tác phòng, chống HIV/AIDS. Xin Phó Chủ nhiệm cho biết, những định hướng của Quốc Hội về công tác này trong giai đoạn sắp tới?

Bà Nguyễn Thuý Anh – Ảnh Tiengchuong.vn/Phan Hoàng

Bà Nguyễn Thuý Anh: Hơn 20 năm đối mặt với HIV là chặng đường đáng kể, đánh dấu sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị. Trong đó vai trò của Quốc hội, HĐND là rất quan trọng.

Thời gian qua, Quốc hội và HĐND đã thể chế hoá quan điểm của Đảng bằng các văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực này. Quốc hội  thường xuyên sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho công tác phòng chống HIV/AIDS, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh Phòng chống HIV/AIDS, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng chống HIV/AIDS và một số Luật chuyên ngành như Luật Phòng chống một số bệnh truyền nhiễm…

Quốc hội đã phê chuẩn chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2011 – 2015 và với vai trò giám sát tối cao, Quốc hội sẽ tăng cường việc giám sát thực hiện các Luật và chương trình mục tiêu quốc gia này.

Uỷ ban các vấn đề xã hội chịu trách nhiệm trước Quốc hội về công tác giám sát này, với các hình thức giám sát toàn diện, giám sát chuyên đề và lồng ghép trong các hoạt động giám sát của Uỷ ban. Liên quan đến ngân sách, Uỷ ban sẽ thẩm tra và đề nghị tăng ngân sách hàng năm cho công tác này.

Quốc hội sẽ tiếp tục rà soát, xây dựng mới, sửa đổi các văn bản có lên quan như Luật BHYT, Luật Hiến máu…

BTV: Công tác phối hợp liên ngành quan trọng như thế nào trong phòng, chống HIV/AIDS. Phải làm gì để huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, cộng đồng và của các tổ chức xã hội tham gia vào công tác phòng, chống HIV/AIDS, thưa Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long ?

Ông Nguyễn Thanh Long: Như tôi đã trao đổi, thời gian qua, các bộ, ngành đã phối hợp chặt chẽ. Ủy ban quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS do một Phó Thủ tướng làm chủ tịch, với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành là cơ chế hiệu phối rất hiệu quả. Vừa qua, chúng ta lại bổ sung thêm một số thành phần như các tổ chức xã hội. Đấy là bước tiến trong thu hút các tổ chức dân sự xã hội trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS.

Một trong những vấn đề chúng tôi đặt ra trong thời gian tới đây là sự phối hợp phải được nâng lên ở tầm cao hơn, thay vì phối hợp thụ động thì phải chủ động hơn. Tức là các Bộ, ngành phải coi trách nhiệm phòng chống HIV/AIDS như là nhiệm vụ thường xuyên. Từ đó, các Bộ, ngành sẽ xây dựng chính sách, chế độ hay chỉ đạo tổ chức triển khai mới đạt được kết quả tốt. Tôi cho rằng, đây là mấu chốt để thành công trong phòng chống HIV/AIDS.

Như Luật Phòng, chống HIV/AIDS quy định và Chỉ thị của Trung ương Đảng coi phòng chống HIV/AIDS là nhiệm vụ thường xuyên, để từng người trong xã hội coi đây là nhiệm vụ của mình.

Hình thức phối hợp phòng, chống HIV/AIDS rất đa dạng, có thể theo chiều ngang, theo chiều dọc. Các Bộ, ngành phải chủ động hơn trong công tác phối hợp đối với công tác này.

Chúng ta đã có một quy chế phối hợp của Ủy ban Quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS. Theo đó, chúng ta có nhiều hình thức, ví dụ 2, 3 Bộ hoặc nhiều hơn phối hợp với nhau. Tôi lấy một ví dụ, hoạt động khuyến khích người dân, triển khai phong trào toàn dân phòng, chống HIV/AIDS do ba cơ quan khởi xướng là Ủy ban Quốc gia, Bộ Y tế và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đó là phối hợp theo chiều ngang. Ba cơ quan này sau đó có thể chọn địa phương để chỉ đạo làm điểm để từ đó rút kinh nghiệm rồi triển khai ra toàn quốc, đấy là phối hợp chiều dọc.

Tuy nhiên, theo tôi, hình thức có hiệu quả là Bộ, ngành phối hợp, chỉ đạo trong ngành của mình. Ví dụ như Bộ Tài chính xem xét đề xuất cơ chế, chính sách tài chính cho phòng chống HIV/AIDS. Trên thế giới, nhiều nước có mô hình rất hay. Chẳng hạn như Pháp, Bộ Tài chính tăng thuế một số mặt hàng như thuốc lá, giá vé máy bay để tạo nguồn cho các chương trình xã hội. Đấy là sự sáng tạo và chủ động của Bộ, ngành.

Quan trọng nhất là sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội,nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức trực thuộc, các tổ chức phi chính phủ. Ví dụ, trong hoạt động chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng, ngoài chỉ đạo của chính quyền địa phương, ngành Y tế làm nòng cốt thì cần có sự tích cực tham gia của Hội phụ nữ, Đoàn thành niên.

Chúng ta làm kế hoạch, chương trình phòng chống HIV/AIDS rất bài bản nhưng quan trọng là phải chuyển tải tới địa phương, tới cộng đồng.

BTV: Liên Hợp Quốc và cá nhân ông có nhận xét, đánh giá gì về công cuộc phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam, thưa ông Tony E. Lisle?

Ông Tony E. Lisle: Thưa các quý vị , Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào công tác phòng chống HIV toàn cầu. Ví dụ, đã có hơn 60.000 người điều trị dự phòng thuốc kháng virus (ARV), tăng 22 lần kể từ 2005, nhờ đó, ngăn chặn 18.000 ca tử vong liên quan đến HIV/AIDS giai đoạn 2000-2008. Nỗ lực của Việt Nam trong phòng chống HIV là rất to lớn, đặc biệt là chương trình cung cấp bơm kim tiêm, bao cao su. Những nỗ lực này đã và đang tạo ra tác động to lớn, tạo đà giảm lây nhiễm HIV mới trong các nhóm nguy cơ cao.

Điều tra gần đây của Bộ Y tế cho thấy, Việt Nam có tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy, mại dâm giảm đáng kể. Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong khu vực, thế giới trong triển khai các biện pháp can thiệp, đặc biệt là việc điều trị cho người nghiện ma túy bằng Methadone, hiện có hơn 10.000 người nghiện ma túy đã được điều trị và có cuộc sống ổn định. Tới đây, Nghị định của Chính phủ Việt Nam về điều trị người nghiện ma túy bằng Methadone sẽ giúp chúng ta mở rộng mô hình điều trị này ra toàn quốc.

Mặt khác, Việt Nam có hơn 50% bà mẹ mang thai được xét nghiệm, sàng lọc HIV, hơn 95% bà mẹ mang thai đi khám thai và đây là cơ sở để chúng ta tin tưởng rằng có thể thực hiện được mục tiêu không còn người nhiễm HIV qua đường mẹ sang con

Việt Nam cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi cho công tác phòng chống HIV trong tương lai.

Bà Nguyễn Thuý Anh: Ban Bí thư đã đánh giá nghiêm túc về vấn đề này. Kết luận số 27 của Ban Bí thư chỉ rõ: Việc tổ chức học tập quán triệt Chỉ thị 54 ở một số cấp ủy chưa thật sự nghiêm túc, nhất là các cấp ủy cơ sở; công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chưa được quan tâm đúng mức; nhận thức của một số cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác phòng, chống HIV/AIDS vẫn còn phiến diện; nguồn nhân lực và ngân sách đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS còn thấp so với yêu cầu. Các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS chưa trở thành một trong các mục tiêu ưu tiên của chương trình phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; một số hoạt động còn phó mặc cho ngành Y tế…BTV: Có ý kiến cho rằng, ở một số địa phương, các cấp ủy Đảng và chính quyền chưa thực sự vào cuộc trong công tác phòng, chống HIV/AIDS. Vì vậy, công tác này tuy đã đạt một số kết quả nhưng chưa thực sự bền vững. Các vị khách mời đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Ông Nguyễn Thanh Long: Sự nhập cuộc của chính quyền các cấp tương đối mạnh mẽ, nhưng ở đâu đó tại các vùng sâu vùng xa, chính quyền vẫn chưa thực sự quan tâm. Chúng ta có nhiều cách để đánh giá vấn đề này, ví dụ theo Chỉ thị 54, Kết luận số 27 của Ban Bí thư và Luật Phòng chống HIV/AIDS, HĐND các cấp phải nghe báo cáo về công tác này, ra Nghị quyết, các văn bản chỉ đạo… Thứ hai, nhiều nơi chưa thực sự quan tâm đến việc bảo đảm kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất cho công tác này, vẫn bị động chờ nguồn kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia. 

BTV: Thưa ông Tony E. Lisle, hiện nay nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái, nguồn lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS đang bị cắt giảm dần. Vậy theo ông, mục tiêu “ba không” của Liên Hợp Quốc là: “Không còn người nhiễm mới HIV, không còn người tử vong do AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS” liệu có khả thi? Xin ông cho biết còn có những khó khăn thách thức gì mà các quốc gia phải vượt qua để thực hiện được mục tiêu nêu trên?

Ông Tony E. Lisle: Theo tôi, không có nghi ngờ gì, chắc chắn Việt Nam sẽ hoàn thành mục tiêu “ba không”. Việt Nam vẫn tiếp tục mở rộng chương trình dự phòng của mình, mức độ như hiện nay đã tốt và mở rộng khắp mọi nơi để giảm các ca nhiễm mới. Như vậy, củng cố việc đang làm, mở rộng hơn nữa và sẽ đảm bảo được “không” về ca nhiễm mới.

Nếu chúng ta tiếp tục những việc đã thành công và tập trung vào các nhóm nguy cơ cao như người tiêm chích ma túy, những người liên quan tới mại dâm và tình dục đồng giới, nâng cao chất lượng chương trình, chắc chắn Việt Nam sẽ giảm được những ca nhiễm mới trong nhóm này.

Một điều nữa, chúng ta cần làm là để mọi người có thể tiếp cận dễ hơn các chương trình điều trị cũng như xét nghiệm HIV,  làm thế nào để giảm được chi phí điều trị, để tăng diện được điều trị.

Việt Nam nên sử dụng hệ thống y tế của mình mà theo tôi là rất mạnh mẽ để lồng ghép các chương trình phòng, chống HIV. Tiếp tục mở rộng các chương trình điều trị đang có để làm sao nhiều hơn nữa số người được điều trị. Các tổ chức hỗ trợ tài chính quốc tế cũng cần xây dựng lộ trình rõ ràng cho Việt Nam để Việt Nam có thể chủ động lo kinh phí. Đồng thời, Việt Nam cũng nhìn nhận khả năng tăng cường các nguồn lực của mình để làm tốt công tác này hơn nữa.

Về “không kỳ thị phân biệt đối xử” mà kết quả Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long đã cung cấp, theo tôi, chương trình toàn dân tham gia phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam thật sự đáng khâm phục. Chúng tôi chắc chắn sẽ luôn bên cạnh Việt Nam.

Gần đây, Giám đốc điều hành UNAIDS toàn cầu đã nói, thế giới tiến hành điều trị HIV trên một tốc độ nhanh chưa từng thấy, bằng chứng là có những việc trước đây, chúng ta làm phải mất hàng thập kỷ, nhưng gần đây chúng ta chỉ làm trong 24 tháng.

Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc cũng bày tỏ niềm tin chắc chắn rằng việc không còn ca nhiễm mới, không còn các ca tử vong vì AIDS, không còn sự phân biệt kỳ thị đối xử chắc chắn sẽ được hoàn tất vào năm 2015.

BTV: Như ông vừa nói, Việt Nam hoàn toàn sẽ thực hiện được mục tiêu 3 không của Liên Hợp Quốc. Vậy ông có dự đoán thời gian nào chúng tôi hoàn thành được mục tiêu đó.

Ông Tony E. Lisle: Như tôi nói, chúng ta cùng nhau tiếp tục tập trung cao độ vào nhóm nguy cơ cao, mở rộng dự phòng, mở rộng điều trị, tôi chắc chắn đến năm 2015 Việt Nam sẽ nhìn thấy rõ kết quả rất đáng kể và tôi nghĩ rằng, năm 2020, Việt Nam sẽ có thêm nhiều thành công hơn nữa.

Lúc đó, Việt Nam cần đề cập tới giai đoạn tiếp theo là điều trị ở thế hệ mới hơn cho những người đã sử dụng ARV.

BTV: Có đến gần 80% nguồn kinh phí cho công tác phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam thời gian qua là từ nguồn viện trợ. Trong thời gian tới, nguồn viện trợ này sẽ giảm dần. Vậy theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long, để duy trì các kết quả mà công tác phòng, chống HIV/AIDS đã đạt được, chúng ta sẽ phải huy động nguồn lực từ đâu và như thế nào? Chính phủ đã có chủ trương, kế hoạch gì về việc này?

Ông Nguyễn Thanh Long: Vấn đề đảm bảo nguồn tài chính vững bền cho công tác phòng chống HIV/AIDS không chỉ Việt Nam mà những nước đang phát triển khác đều phải đối mặt. Khi chúng ta trở thành nước thu nhập trung bình, đương nhiên các nhà tài trợ giảm viện trợ; mặt khác, khó khăn kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng đến nguồn tài trợ, chưa kể từ sau khi có cam kết nhưng giải ngân thực tế còn khác nhau.

Vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo rất sát thực. Cụ thể, yêu cầu Bộ Y tế xây dựng Đề án Phòng chống HIV đến năm 2020, trong đó xác định vai trò của Nhà nước trong đầu tư phòng chống HIV.

Đề án đã hoàn thành, chuẩn bị trình trong tháng 12, có một số điểm đáng quan tâm. Thứ nhất là tăng đầu tư bằng ngân sách trong nước, kêu gọi hỗ trợ của các tổ chức quốc tế; thông qua chính sách huy động nguồn vốn các tổ chức như trong doanh nghiệp; huy động đóng góp của những người nhiễm HIV có điều kiện thay vì  hoàn toàn miễn phí như hiện nay. Tiếp đó là tranh thủ thêm các nguồn lực từ các nước trong khu vực.

Ngoài ra, với sự hỗ trợ tích cực của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, chúng ta đã thông qua chương trình Phòng, chống HIV đến năm 2015, trong đó nói rõ tăng đầu tư cho phòng chống HIV nhiều hơn nữa.

Thứ 2 là cần chi tiêu hiệu quả kinh phí, sắp xếp bố trí lại việc chi tiêu cho các chương trình truyền thông, can thiệp cộng đồng trong phòng chống HIV.

Ngoài ra, tôi xin nói thêm rằng con số 80% kinh phí phòng chống HIV ở Việt Nam là từ viện trợ nước ngoài là chưa đúng. Khi tính kinh phí đầu tư trực tiếp là  trên 70% từ nguồn viện trợ nước ngoài, nhưng chưa tính đến đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, con người cho công tác phòng chống HIV tại Việt Nam

Hiện nay, đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế được tổ chức để tham vấn cho các nước bảo đảm nguồn tài chính cho công tác phòng chống  HIV, vốn cũng là thách thức của nhiều quốc gia hiện nay.

Chúng tôi hy vọng khi Đề án Phòng chống HIV đến năm 2020 thông qua sẽ có cơ hội thực hiện điều này.

Ngoài ra, còn có trách nhiệm các bộ, ngành, theo quy định là người điều trị ARV được chi trả bảo hiểm thì tới đây chúng ta cũng phải làm việc với bảo hiểm, tài chính về vấn đề này.

BTV: Những kết quả trong công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam đã có sự đóng góp rất lớn của các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay các tổ chức quốc tế đang cắt giảm dần nguồn kinh phí tài trợ cho công tác này. Trên cương vị là người đứng đầu của tổ chức quốc tế về phòng, chống HIV tại Việt Nam, xin ông Tony cho biết, UNAIDS Việt Nam và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đã đề ra những giải pháp gì để giúp Việt Nam duy trì được các kết quả đã đạt được, tránh tình trạng do thiếu hụt kinh phí làm dịch HIV gia tăng?

Ông Tony E. Lisle: Về kế hoạch ổn định tài chính cho phòng, chống HIV, chúng tôi đang tham gia ý kiến với Bộ Y tế và chúng tôi biết Chính phủ Việt Nam rất quan tâm tới vấn đề này. Như Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long đã nói, đôi khi chúng ta chưa tính đến lương, chi phí cho đội ngũ làm công tác này tại Việt Nam, và nếu tính cả các khoản này, phải nói Việt Nam đã đóng góp rất lớn cho công tác phòng chống HIV/AIDS của mình.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng, Việt Nam phải tăng cường nguồn lực cho các chương trình có hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc với các tổ chức quốc tế khác về nguồn kinh phí ổn định trong 5, 6 năm tới đây. Chúng tôi cam kết sẽ cùng Việt Nam vượt qua khó khăn trong vấn đề này.

Nhìn sang Malaysia, quốc gia đã đảm bảo 100% nguồn lực của quốc gia cho phòng chống HIV/AIDS, chúng tôi tin rằng VIệt Nám sẽ lo được cho mình, cùng với sự phát triển của nền kinh tế.  Trong 5, 6 năm tới, cùng với việc giảm dần sự hỗ trợ quốc tế, Việt Nam sẽ tăng dần nguồn lực và sẽ thay thế được nguồn lực của nước ngoài. Tôi cho rằng,  nhà nước và nhân dân cùng làm là một cách làm hay cho công tác này.

Tôi hoan nghênh đề án dự phòng cho tương lai của Bộ Y tế, để lo nguồn kinh phí cho tương lai. Như Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long đã nói, trên thực tế, việc lo kinh phí rất khó nên phải tiêu tiền khôn ngoan hơn, tăng hiệu quả của đồng tiền.

BTV: Hiện nay chúng ta đang chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp 1992. Xin Phó Chủ nhiệm cho biết liệu Hiến pháp mới sẽ có những điểm thay đổi gì để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống ma túy, mãi dâm ở nước ta?

Bà Nguyễn Thúy Anh: Trong Hiến pháp hiện hành (1992), tư tưởng phòng chống tệ nạn xã hội được hiến định tại điều 61 là quy định quyền và nghĩa vụ công dân trong lĩnh vực sức khỏe nhân dân. Hiến pháp 1992 cũng quy định trách nhiệm của nhà nước, quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

Hiến pháp mới mang tính khái quát, tổng thể…. Sửa đổi Hiến pháp 1992 bảo đảm yêu cầu có sức sống dài hơn. Dự kiến kết cấu bố cục của hiến pháp sẽ có một số thay đổi, trong đó sẽ xây dựng chương mới, dự kiến là chương 3  thể hiện quan điểm định hướng lớn của nhà nước về kinh tế- xã hội, văn hóa- giáo dục, khoa học- công nghệ và môi trường.

Về vấn đề hiến pháp mới sẽ có những điểm thay đổi gì để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác phòng chống HIV/AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm ở nước ta,  theo tôi, có nên hiến định tư tưởng về phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội hay không là vấn đề cần cân nhắc kỹ. Có 3 vấn đề sau đây cần được quan tâm.

Thứ nhất, sau 20 năm thi hành Hiến pháp 1992, hệ thống pháp lý về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma túy mại dâm đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo lập cơ chế khá đồng bộ, hiệu quả cho công tác này. Bối cảnh này hoàn toàn khác so với lúc chúng ta ban hành Hiến pháp năm 1992. Do đó, cân nhắc có nhất thiết phải hiến định tư tưởng về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma túy mại dâm hay không là vấn đề đặt ra.

Thứ 2, với quan điểm lập hiến mới, chỉ nên chắt lọc và đưa vào hiến định những tư tưởng, đường lối chính sách lớn có tầm nhìn bao quát cho toàn bộ giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cho sự ổn định và sức sống lâu dài của Hiến pháp.

Dự thảo hiến pháp đã xây dựng một quy định về định hướng chính sách trong lĩnh vực y tế, trong đó tư tưởng về mục tiêu phát triển về sự nghiệp y tế kết hợp phòng bệnh và chữa bệnh, nâng cao chất lượng dân số… đã phản ánh và bao hàm các khía cạnh của phòng chống HIV/AIDS và các vấn đề liên quan tới tệ nạn xã hội.

Thứ 3, trong giai đoạn hiện nay, công tác phòng chống HIV/AIDS, phòng chống các tệ nạn ma túy mại dâm cũng ngày càng diễn biến phức tạp, biến đổi nhanh, do đó, nên ở tầm mức lập pháp là vừa phải để việc sửa đổi bổ sung hệ thống pháp luật linh hoạt hơn, phù hợp hơn. Và với riêng phòng chống HIV/AIDS, tôi vẫn muốn trích dẫn lời của Giám đốc Viện Pasteur Paris- người đã đồng tìm ra virus HIV vào năm 1983, khẳng định với sự phát triển của tiến bộ khoa học mới, cho phép lạc quan rằng một thế giới không có AIDS trong tầm tay.

Bà Nguyễn Thúy Anh: Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trước hết nhằm thay đổi nhận thức mà bài học kinh nghiệm của nhiều chương trình, đặc biệt là các chương trình phòng chống HIV/AIDS cho thấy, từ nhận thức tới thay đổi hành vi là một quá trình thực sự khó khăn, vì vậy, vai trò  của công tác tuyên truyền rất quan trọng.BTV: Hiện nay công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đóng vai trò rất quan trọng, tuy nhiên còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa thực sự phù hợp với đặc điểm của từng khu vực. Theo Phó Chủ nhiệm, làm thế nào để triển khai công tác này đạt hiệu quả hơn? 

Các cơ quan Trung ương ban hành chính sách và hướng dẫn mang tính định hướng còn vai trò quan trọng hơn là sự lãnh đạo của cấp ủy đảng ở chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở. Vì vậy, ở đâu lãnh đạo cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm vào cuộc thực sự, ở đó sẽ có giải pháp phù hợp và tình hình sẽ biến chuyển.

Việc tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật không chỉ mang tính chất chuyên môn của cơ quan chức năng, mà phải là công việc của tất cả các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp…

Thêm vào đó, phải nói đến người dân, trong đó có mấy nhóm đối tượng như bản thân người nhiễm HIV, đội ngũ đảng viên, công viên chức… họ phải thực sự là đối tượng tích cực xây dựng nếp sống mới lành mạnh, công tác tuyên truyền phải được phân nhóm phân vùng và xây dựng lối sống không rượu, bia, ma túy…

Cuối cùng là nguồn lực, không chỉ trông chờ vào nguồn lực ngân sách có hạn của nhà nước, mà phải xã hội hóa công tác truyền thông tuyên truyền, huy động sự tham gia của các tổ chức, người dân…

BTV: Vậy ý kiến Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long về vấn đề này thế nào?

Ông Nguyễn Thanh Long: Các chương trình truyền thông cần thay đổi, thay vì tổ chức các cuộc vận động lớn, sự kiện lớn theo chiều rộng thì đưa vào chiều sâu. Tức là truyền tải, tổ chức bằng được phong trào toàn dân tham gia phòng chống HIV, xác định vai trò trách nhiệm của cộng đồng, chính quyền cơ sở trong công tác này.

Thứ hai là cần truyền thông đúng nhóm đích, đối tượng. Ví dụ truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số thì phải dùng ngôn ngữ của họ, cách làm của họ. Chúng tôi đã phối hợp với Ủy ban Dân tộc để xây dựng các video clip, hoạt cảnh để tuyên truyền cho đồng bào. Đối với nhóm ma túy, mại dâm thì phải thông qua mạng lưới đồng đẳng viên để tuyên truyền. Mỗi nhóm đối tượng, địa bàn cần tổ chức hình thức truyền thông phù hợp.

BTV: Vậy chúng ta đã có các tuyên truyền viên, tư vấn viên về phòng chống HIV là người dân tộc chưa?

Ông Nguyễn Thanh Long: Khi tổ chức tổng kết cộng tác viên truyên truyền phòng chống HIV ở cơ sở, chúng ta có rất nhiều cộng tác viên là người dân tộc. Năm 2010, Bộ Y tế đã tổ chức biểu dương các cộng tác viên tuyên truyền HIV tại cơ sở thì đa phần là người dân tộc.

Đối với chúng tôi, mọi người dân tại cộng đồng khi tham gia công tác phòng chống HIV đều là cộng tác viên.

BTV: Việt Nam đang đi đầu trong việc thực hiện tiếp cận phổ cập tới các dịch vụ toàn diện về HIV và là quốc gia đầu tiên trên thế giới thí điểm phương pháp điều trị 2.0 – một thế hệ điều trị HIV mới có thể giảm gần như hoàn toàn các ca tử vong liên quan đến AIDS và giúp dự phòng lây nhiễm HIV, xin Thứ trưởng cho biết hiệu quả phác đồ điều trị này?

Ông Nguyễn Thanh Long: Tôi xin đính chính, đó không phải là phác đồ điều trị mới mà là cách tiếp cận mới. Nét mới thứ nhất là tối ưu hoá phác đồ điều trị, trước đây chúng ta dùng 3 loại thuốc với 6 viên một ngày thì nay là 1 viên một ngày. Thứ hai, trước đây ta điều trị tại các cơ sở y tế cấp huyện và tỉnh, thì nay điều trị tại xã và phường; phân cấp trách nhiệm, trước đây giao cho cán bộ tỉnh, huyện thì nay chuyển cho xã phường.

Thứ ba, tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn, kể cả xét nghiệm HIV, chúng tôi đã thí điểm xét nghiệm sàng lọc tại cấp xã, nếu có dương tính hoặc nghi ngờ thì chuyển lên tuyến trên. Chúng ta cũng huy động quần chúng, các tổ chức xã hội tham gia vào công tác này.

Việt Nam đã triển khai thí điểm cách tiếp cận mới này tại Cần Thơ, Điện Biên, sắp tới sẽ có tổng kết. Cách tiếp cận này chúng ta đã từng áp dụng với các bệnh mãn tính, tâm thần, lao…nhưng với HIV/AIDS gặp một số khó khăn do phân biệt đối xử.

Tôi cho rằng, sự thành bại của cách tiếp cận mới này phụ thuộc vào việc thay đổi thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm HIV. Tại TP.HCM, nhiều bệnh nhân không muốn về nơi ở để điều trị vì sợ phân biệt đối xử. Do đó, chúng ta phải tăng cường truyền thông, coi đây là bệnh thông thường như các bệnh mãn tính khác.

BTV: Chương trình điều trị ARV và điều trị nghiện bằng Methadone đã có những bước phát triển khả quan. Tuy nhiên, nguồn kinh phí đáp ứng cho vấn đề này hiện chủ yếu là kinh phí tài trợ. Thời gian tới, khi viện trợ quốc tế giảm dần, các chương trình này sẽ gặp những khó khăn, vậy theo Thứ trưởng chúng ta cần làm gì để thực hiện được các mục tiêu cụ thể trong việc điều trị ARV và điều trị bằng Methadone?

Ông Nguyễn Thanh Long: Chúng ta đang rốt ráo triển khai các biện pháp đảm bảo tài chính cho các chương trình tới năm 2015 và về sau. Riêng với chương trình Methadone, Chính phủ đã ban hành Nghị định 96, trong đó hướng dẫn, chỉ đạo việc triển khai chương trình rất cụ thể, mà nội dung quan trọng là chỉ rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp. Ví dụ, một quận, huyện có 250 người nghiện trở lên thì phải tổ chức các cơ sở điều trị bằng Methadone, còn dưới 250 người thì có thể lồng ghép, kinh phí triển khai do địa phương chịu trách nhiệm.

Thứ hai, chúng tôi đang nghiên cứu tiến tới việc giảm giá thành Methadone. Hiện chi phí điều trị Methadone khoảng 15.000 đồng/ngày/người, trong đó giá thuốc khoảng 7.000 đồng, phần còn lại cho các chi phí về vận chuyển, nhân lực… Tuy nhiên, nếu số lượng người điều trị càng nhiều thì giá thành càng giảm. Chúng tôi sẽ cố gắng đưa giá thành thuốc về khoảng từ 3.000 – 3.500 đồng/ngày điều trị.

Về chương trình ARV, Bộ Y tế sẽ xây dựng đề án riêng cho công tác đảm bảo cung ứng thuốc, gồm nhiều giải pháp, từ công tác đấu thầu, nghiên cứu sản xuất trong nước, giải quyết vấn đề sở hữu trí tuệ…

Như vậy, những  vấn đề khó khăn nhất trong hai chương trình Methadone và ARV sẽ được giải quyết.

BTV: Người nghiện ma túy được coi là người bệnh, như vậy rất cần phải sửa đổi pháp luật như Luật Phòng, chống ma túy, Luật Phòng, chống HIV/AIDS và Luật xử phạt vi phạm hành chính và nhiều văn bản qui phạm khác… Xin bà Nguyễn Thúy Anh cho biết thêm về vấn đề này.

Bà Nguyễn Thúy Anh: Quan điểm của Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 và những sửa đổi, bổ sung luật này năm 2008  xem người nghiện ma túy là người bệnh và đồng thời là người vi phạm pháp luật. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Hình sự mới chỉ phi hình sự hóa hành vi sử dụng ma túy, chứ vẫn coi là hành vi vi phạm pháp luật.

Do đó, phải kết hợp giữa xử lý hành chính và chữa bệnh cho người nghiện ma túy. Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy, Nhà nước áp dụng chế độ cai nghiệm đối với người nghiện ma túy, khuyến khích và hỗ trợ cai nghiện ma túy và sau cai nghiện, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và nâng cao trách nhiệm của người nghiện ma túy và gia đình.

Tuy nhiên, phải thừa nhận trên thực tế và trong quá trình sửa đổi Luật Phòng, chống ma túy còn có những điểm khác nhau, giác độ tiếp cận khác nhau. Trong kế hoạch công tác thời gian tới, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội sẽ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất Luật Cai nghiện. Tôi nghĩ đây là thời điểm đưa ra quan điểm, góc nhìn đa diện, nhiều chiều về vấn đề nghiện ma túy, đi tới thống nhất về nhận thức để sửa đổi, bổ sung phù hợp.

BTV: Thưa Thứ trưởng, xin ông cho biết dự báo về tình hình lây nhiễm HIV/AIDS trong thời gian tới ở nước ta như thế nào?

Ông Nguyễn Thanh Long: Mục tiêu lớn nhất của toàn cầu là thực hiện “ba không”, một mục tiêu rất tham vọng, đồng thời là thách thức lớn đối với các quốc gia chứ không riêng Việt Nam. Đây là cam kết chính trị mà Việt Nam đã đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về phòng chống HIV/AIDS, điều này thể hiện rõ trong chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đã được Chính phủ phê duyệt trong năm 2012.

Chúng ta không đặt ra kỳ hạn cụ thể cho “ba không”, mà đưa ra những mục tiêu cụ thể hơn, nhưng tựu trung lại, trong tầm nhìn sau năm 2020, sẽ thực hiện theo đúng cam kết.

Chúng ta không thể nói rằng, đến năm 2015 hay 2020 sẽ thực hiện được “ba không” vì muốn thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi sự quyết tâm rất lớn, đầu tư rất lớn và đặc biệt là sự nhập cuộc của mọi người dân. Làm thế nào để không còn người nhiễm mới HIV, đấy là một thách thức lớn; làm thế nào để không còn người tử vong liên quan đến HIV/AIDS khi mà đến thời điểm hiện nay, mỗi năm vẫn còn khoảng hơn 1.000 người tử vong liên quan đến HIV/AIDS và do nhiều nguyên nhân chúng ta chưa thể kiểm soát tuyện đối được vấn đề này. Nhưng dẫu sao, đó là một trong những mục tiêu mà chúng ta cần phải hướng tới theo cam kết sau năm 2020 để đạt được mục tiêu “ba không”.

BTV: Hơn 20 năm Việt Nam ứng phó với đại dịch HIV/AIDS, tuy đã có những thành công nhất định nhưng ở bình diện chung và cấp độ toàn cầu có thể thấy chúng ta chưa có khả năng ngăn chặn được tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS. Điều chúng ta cần hiện nay là làm sao tạo được sức mạnh tổng hợp, qua đó tiếp tục đặt ra những mục tiêu, các chương trình, kế hoạch và giải pháp phòng, chống HIV tổng thể, dài hạn, nhằm đảm bảo cho công tác phòng, chống HIV/AIDS đạt hiệu quả bền vững, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho những người nhiễm HIV/AIDS có thể tự tin hòa nhập với cộng đồng và tiếp cận với các dịch vụ xã hội, những dịch y tế, giảm thiểu việc lây truyền từ các loại bệnh lây qua đường tình dục và HIV/AIDS.

Trân trọng cảm ơn sự theo dõi của quý vị khán giả. Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời.

Tiengchuong.vn